“Lúa chưa xanh thì rải thêm đạm”? Chuẩn bị lần thúc đẻ nhánh Đông Xuân với NPK Phú Mỹ 20-7-7+TE cho đúng lượng
Đăng ngày · Công ty TNHH Út Nữ
> Cảnh báo: Nội dung bài này được tạo / hỗ trợ bởi AI trên cơ sở tổng hợp tài liệu công khai. Công ty TNHH Út Nữ miễn trừ trách nhiệm đối với thiệt hại phát sinh từ việc sử dụng thông tin trong bài. Anh chị nên đối chiếu bao bì, hướng dẫn nhà sản xuất, lịch thời vụ địa phương và liên hệ hotline để được tư vấn phù hợp điều kiện thực tế.
Ở Vĩnh Long và các tỉnh ven biển, nhiều ruộng sẽ xuống giống Đông Xuân 2026–2027 ngay trong tháng 10: Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật khuyến cáo các vùng có nguy cơ hạn, mặn cuối vụ gieo sạ sớm từ 10–30/10, trà chính từ 1–30/11, và ưu tiên giống ngắn ngày (Nhân Dân, 2026). Với lịch đó, lần thúc đẻ nhánh của trà sớm sẽ rơi vào khoảng đầu đến giữa tháng 11, của trà chính vào cuối tháng 11 sang tháng 12. Mùa khô tới được dự báo ít nước, mặn có thể vào từ cuối tháng 12 (Cục Khí tượng Thủy văn, 2026), nên một vụ lúa gọn, ít lãng phí phân ngay từ giai đoạn đẻ nhánh càng quan trọng.
Ở giai đoạn này, thói quen hay gặp là "lúa chưa xanh thì rải thêm đạm". Bài viết giúp anh chị chuẩn bị lần thúc đẻ nhánh theo nguyên tắc đúng loại – đúng lúc – đúng lượng, lấy NPK Phú Mỹ 20-7-7+TE làm ví dụ kỹ thuật cho nhóm phân đạm cao.
Đẻ nhánh cần gì, và dễ sai ở đâu?
Đẻ nhánh là lúc lúa tạo số chồi, cũng là nền cho số bông sau này. Theo IRRI, thiếu đạm hay xảy ra đúng ở giai đoạn đẻ nhánh và làm đòng, khi cây cần đạm nhiều; lúa thiếu đạm thì đẻ nhánh ít, lá nhỏ, vàng chanh (Dobermann và Fairhurst, 2000).
Nhưng sai lầm phổ biến không phải là thiếu, mà là bón không đúng lúc:
- Đạm sớm quá nhiều: IRRI khuyên chỉ bón lượng đạm vừa phải trong 21 ngày đầu sau sạ, khi nhu cầu của cây còn nhỏ; sau đó mới bón theo nhu cầu, dựa vào màu lá (IRRI, 2007a).
- Dồn một lần quá lớn: IRRI khuyến cáo chia tổng lượng đạm thành 2–4 lần, chỉ bón một lần trên 45 kg N/ha khi thời tiết rất thuận lợi và cây đáp ứng mạnh (IRRI, 2007b).
- Lúa sạ dày dễ thiếu kali sớm: lúa sạ có mật độ cao, rễ cạn nên dễ thiếu kali ở giai đoạn đầu (Dobermann và Fairhurst, 2000). Bón toàn đạm mà quên kali là mất cân đối.
Thông số NPK Phú Mỹ 20-7-7+TE và ý nghĩa
Theo PVFCCo, NPK Phú Mỹ 20-7-7+TE (mã số 05372) là phân bón hỗn hợp NPK, dùng bón rễ, hạn dùng 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Với cây lương thực, nhà sản xuất hướng dẫn bón lót 50–200 kg/ha và bón thúc 50–300 kg/ha/vụ (PVFCCo, n.d.).
- Đạm (N) 20%: thành phần chính, thúc ra chồi và lá; là công thức "đạm cao".
- Lân hữu hiệu (P₂O₅) 7%: mức thấp, chỉ bổ sung thêm; lân chủ yếu nên có từ đầu vụ.
- Kali hữu hiệu (K₂O) 7%: mức thấp; chưa đủ cho ruộng dễ thiếu kali.
- Kẽm (Zn) 50 ppm và Bo (B) 50 ppm: vi lượng bổ sung; kẽm liên quan trực tiếp đến khả năng đẻ nhánh của lúa.
- Độ ẩm 5%: chỉ tiêu chất lượng hạt phân, để đối chiếu khi đọc bao.
Bốn dấu hiệu ruộng đã tới lúc thúc bằng 20-7-7+TE
1. Lần thúc đẻ nhánh, sau mốc 3 tuần. Tài liệu của Phân bón Cà Mau đặt hai lần thúc giai đoạn mạ – đẻ nhánh ở 7–10 và 18–22 ngày sau sạ (PVCFC, 2023a; PVCFC, 2023b). Một công thức đạm cao như 20-7-7 phù hợp với lần thứ hai, quanh 18–25 ngày sau sạ, khi lúa vào đẻ nhánh rộ và cây bắt đầu cần nhiều đạm.
2. Ruộng đã có lân từ đầu vụ. IRRI khuyên bón toàn bộ lân gần lúc gieo sạ (IRRI, 2007a). Nếu lần bón lót hoặc thúc 1 đã dùng công thức lân khá, thì đến lần đẻ nhánh, 20-7-7 bổ sung đạm mà không phải bón thêm lân không cần thiết.
3. Lá xanh vàng, chưa đạt màu. Dùng bảng so màu lá: chọn 10 bụi, đọc lá trên cùng đã mở hoàn toàn, che bóng người khi đọc, lặp lại mỗi 7–10 ngày (IRRI, n.d.). IRRI ghi nhận ngưỡng màu lá cần bón đạm dao động từ 2 đến 4 tùy giống và cách gieo, nên phải hiệu chỉnh theo khuyến cáo địa phương (IRRI, 2007b).
4. Đất phù sa có vùi rơm, ít thiếu kali. Ở chân ruộng này, công thức kali thấp ít gây mất cân đối hơn.
Tính lượng theo dưỡng chất. Mỗi 100 kg 20-7-7+TE cung cấp 20 kg N, 7 kg P₂O₅ và 7 kg K₂O. Nghiên cứu của Đại học Cần Thơ đề xuất cho cả vụ khoảng 85–95 kg N/ha trên đất phù sa và 70–80 kg N/ha trên đất phèn, đất nhiễm mặn (Ngô Ngọc Hưng và cộng sự, 2020). Như vậy, 100–150 kg/ha (khoảng 10–15 kg mỗi công 1.000 m²) cho lần đẻ nhánh cung cấp 20–30 kg N, tức khoảng một phần tư đến một phần ba lượng đạm cả vụ, và vẫn dưới mức 45 kg N/ha cho một lần bón mà IRRI lưu ý (IRRI, 2007b). IRRI cũng ghi nhận vụ nhiều nắng (như Đông Xuân) thường cần nhiều đạm hơn vụ ít nắng (IRRI, 2007b); dù vậy, tổng lượng cả vụ vẫn nên bám khung khuyến cáo địa phương. Đây là phép tính minh họa, cần cộng dồn với các lần bón trước và sau.
Gặp các trường hợp này thì tạm gác 20-7-7+TE
- Lần thúc sớm 7–10 ngày sau sạ, nhất là trên đất phèn: lúa cần lân để ra rễ. 20-7-7 ít lân; nên dùng công thức lân khá như NPK Phú Mỹ 16-16-8+13S+TE hoặc phối hợp DAP Phú Mỹ 18-46-0 theo hướng dẫn kỹ thuật.
- Lúa đã xanh đậm, rậm: đạm đủ rồi; giảm hoặc bỏ lần bón đạm này, theo dõi tiếp bằng bảng so màu lá.
- Ruộng ngộ độc phèn, ngộ độc hữu cơ (rễ đen, lá đốm nâu, lúa đứng không đẻ): bón đạm lúc này ít tác dụng. IRRI khuyên tháo nước giữa vụ ở khoảng 25–30 ngày sau sạ, giữ ruộng ẩm không ngập khoảng 7–10 ngày để rễ có oxy, kết hợp bón đủ kali (Dobermann và Fairhurst, 2000). Rễ trắng lại rồi mới thúc.
- Đất cát, đất phèn cũ, ruộng không vùi rơm: dễ thiếu kali; 20-7-7 không đủ kali. Có thể chọn công thức cân đối hơn như NPK Phú Mỹ 20-10-10+TE, hoặc bổ sung kali theo nguyên tắc của IRRI: chia kali hai lần, khoảng một nửa đầu vụ và một nửa lúc bắt đầu làm đòng (IRRI, 2007a).
- Ruộng bị mặn đầu vụ: ưu tiên rửa mặn, giữ nước ngọt; bón đạm trên ruộng mặn khi rễ đang yếu dễ lãng phí.
- Sắp có mưa lớn: không bón thúc đạm khi dự báo mưa to (IRRI, 2007b).
Lưu ý khi bón
- Bón khi ruộng có lớp nước mỏng; không bón lúc trời mưa, giữa trưa nắng nóng hay sáng sớm lá còn ướt sương; nên bón chiều mát (PSE, n.d.).
- Quản lý nước theo kiểu ngập – khô xen kẽ: giai đoạn đẻ nhánh đến làm đòng giữ nước 3–5 cm rồi để ruộng cạn dần, giúp rễ ăn sâu, hạn chế ngộ độc hữu cơ (PVCFC, 2023a).
- Không trộn chung với vôi; nếu vừa rải vôi thì bón cách ít nhất 7–10 ngày (PVCFC, 2026).
- Rải đều, không để phân dồn ở chỗ trũng hay mép bờ.
- Đọc bao: đối chiếu tên, thành phần, mã số phân bón, ngày sản xuất.
Đại lý nên tư vấn gì?
Trước khi giới thiệu phân thúc đẻ nhánh, đại lý nên hỏi lại:
1. Sạ ngày nào, giống bao nhiêu ngày? Để biết đang ở lần thúc 1 hay lần thúc 2. 2. Lần trước đã bón gì? Nếu chưa có lân, đừng chọn ngay công thức đạm cao. 3. Màu lá và rễ ra sao? Lá xanh đậm thì bớt đạm; rễ đen thì xử lý nước trước. 4. Đất phù sa, phèn hay cát, có vùi rơm không? Để biết có cần thêm kali.
Với ruộng đúng lần thúc 2, đã có lân, lá chưa đủ xanh, có thể giới thiệu NPK Phú Mỹ 20-7-7+TE và nhắc lượng theo dưỡng chất, chia lần. Công ty TNHH Út Nữ phân phối sỉ khu vực Vĩnh Long – Trà Vinh – ĐBSCL; anh chị cần bổ sung hàng có thể gọi / Zalo 0294 3882069 – 02943 883791 – 02943 882837.
Kết luận
Lần thúc đẻ nhánh quyết định số chồi, nhưng nhiều đạm chưa chắc nhiều chồi hữu hiệu. Nguyên tắc là lân có từ đầu vụ, đạm vừa phải trước 3 tuần, sau đó bón theo màu lá, chia lần, không dồn một lần quá lớn. NPK Phú Mỹ 20-7-7+TE là công thức đạm cao, phù hợp cho lần thúc đẻ nhánh rộ trên ruộng đã có lân và không thiếu kali. Ruộng phèn cần lân sớm, ruộng cát cần thêm kali, ruộng ngộ độc phải xử lý nước trước. Bón đúng loại, đúng lúc, đúng lượng giúp lúa Đông Xuân đẻ gọn, khỏe và tiết kiệm phân trong một vụ được dự báo thiếu nước.
Tài liệu tham khảo
Cục Khí tượng Thủy văn (2026) *Nguồn nước về ĐBSCL mùa khô 2026–2027 có thể ở mức thấp, xâm nhập mặn xuất hiện từ cuối tháng 12*. 17 tháng 9. Available at: https://vnmha.mae.gov.vn/nguon-nuoc-ve-dbscl-mua-kho-20262027-co-the-o-muc-thap-xam-nhap-man-xuat-hien-tu-cuoi-thang-12-18747.htm (Accessed: 3 October 2026).
Dobermann, A. and Fairhurst, T. (2000) *Rice: Nutrient disorders & nutrient management*. Singapore and Los Baños: PPI, PPIC and IRRI. Tóm lược tại IRRI Rice Knowledge Bank, các mục Nitrogen deficiency, Potassium deficiency và Iron toxicity. Available at: http://www.knowledgebank.irri.org/training/fact-sheets/nutrient-management/deficiencies-and-toxicities-fact-sheet (Accessed: 3 October 2026).
IRRI – International Rice Research Institute (2007a) *Nutrients for irrigated rice: SSNM* (Rice Production e-learning, Nutrient management IV.4). Available at: http://knowledgebank.irri.org/ericeproduction/IV.4_SSNM.htm (Accessed: 3 October 2026).
IRRI – International Rice Research Institute (2007b) *Nitrogen application* (Rice Production e-learning, Nutrient management). Available at: http://www.knowledgebank.irri.org/ericeproduction/pop_up_Nitrogen_application.htm (Accessed: 3 October 2026).
IRRI – International Rice Research Institute (n.d.) *Leaf Color Chart*. IRRI Rice Knowledge Bank. Available at: http://www.knowledgebank.irri.org/step-by-step-production/growth/soil-fertility/leaf-color-chart (Accessed: 3 October 2026).
Ngô Ngọc Hưng, Lý Ngọc Thanh Xuân, Trần Ngọc Hữu, Lâm Văn Thông, Nguyễn Bảo Vệ, Lê Phước Toàn, Lê Văn Dang, Nguyễn Kim Quyên, Trần Văn Dũng và Trịnh Quang Khương (2020) 'Sử dụng NPK cho cây lúa trên các biểu loại đất chính ở Đồng bằng sông Cửu Long', *Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ*, 56 (Số chuyên đề Khoa học đất), pp. 177–184. doi: 10.22144/ctu.jsi.2020.083.
Nhân Dân (2026) 'Chủ động ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn', *Báo Nhân Dân điện tử*, 27 tháng 6. Available at: https://nhandan.vn/chu-dong-ung-pho-voi-han-han-xam-nhap-man-post971920.html (Accessed: 3 October 2026).
PSE – Công ty CP Phân bón và Hóa chất Dầu khí Đông Nam Bộ (n.d.) *Hướng dẫn sử dụng Đạm Phú Mỹ và NPK Phú Mỹ*. Available at: https://www.pse.vn (mục Hoạt động kinh doanh – Đạm Phú Mỹ) (Accessed: 3 October 2026).
PVCFC – Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (2023a) *Khởi động vụ Đông Xuân, chọn Phân Bón Cà Mau*. Bí Kíp Vàng, 21 tháng 12. Available at: https://bikipvang.pvcfc.com.vn/2023/12/21/khoi-dong-vu-dong-xuan-chon-phan-bon-ca-mau/ (Accessed: 3 October 2026).
PVCFC – Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (2023b) *Sạ lúa Đông Xuân, bón phân chuyên dùng*. Bí Kíp Vàng, 21 tháng 12. Available at: https://bikipvang.pvcfc.com.vn/2023/12/21/sa-lua-dong-xuan-bon-phan-chuyen-dung/ (Accessed: 3 October 2026).
PVCFC – Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (2026) *Bón vôi là gì? Vai trò và kỹ thuật bón vôi đúng cách*. 25 tháng 2. Available at: https://www.pvcfc.com.vn/bon-voi (Accessed: 3 October 2026).
PVFCCo – Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (n.d.) *NPK Phú Mỹ 20-7-7+TE – thông tin sản phẩm và hướng dẫn sử dụng* (mã số 05372). Available at: https://dpm.vn (mục Sản phẩm – Nhóm phân hỗn hợp NPK Phú Mỹ) (Accessed: 3 October 2026).
Về nội dung và trách nhiệm
Nội dung được phát triển bởi Grokbot AI. Công ty TNHH Út Nữ và Grokbot AI miễn trừ trách nhiệm đối với mọi thiệt hại phát sinh từ việc sử dụng thông tin trong bài. Toàn bộ nội dung chỉ mang mục đích khám phá và học thuật, không thay thế tư vấn kỹ thuật chuyên môn, khuyến cáo chính thức của nhà sản xuất hay cơ quan nhà nước, và không cấu thành lời hứa thương mại về năng suất hay hiệu quả kinh tế.